LUẬN VỀ QUÂN SỐ VÀ THƯƠNG VONG THỜI CHIẾN QUỐC (論戰國時期之兵數與傷亡)

 Luận về quân số và thương vong thời Chiến Quốc

Tóm tắt:

I. Vấn đề sử liệu

Việc xác định quân số là một trong những bước quan trọng nhất nhằm tiến hành nghiên cứu lịch sử quân sự. Tuy nhiên, vấn đề xác định quân số của 7 nước (thất hùng) thời Chiến Quốc gặp phải nhiều khó khăn do sử liệu thời kỳ này thất tán. Nếu ở thời Xuân Thu, ta có nhiều tư liệu như bộ Tả Truyện, ghi chép các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian với độ chính xác khá cao, thì ở thời Chiến Quốc, nguồn sử liệu chính mà ta có chỉ còn Sử Ký và Chiến Quốc Sách. Các số liệu về quân số và thương vong của thất hùng trong Sử Ký luôn luôn rất cao mà đỉnh điểm là việc 400,000-450,000 quân Triệu đầu hàng quân Tần trong trận Trường Bình. Những con số to lớn này, dù đến từ Chiến Quốc Sách hay Sử Ký, đều không phản ánh đúng kích thước quân đội thời kỳ này.

Chiến Quốc Sách là một bộ luận thuyết, từ trước đến nay được các học giả từ đông sang tây đều đánh giá giá trị lịch sử rất thấp. Phần nhiều các tư liệu trong sách này dựa một phần vào sự thật lịch sử, nhưng được tô vẽ thêm bởi người đời sau. 

Quan hệ giữa Chiến Quốc Sách và Sử Ký khá phức tạp. Khi khảo sát quân số và thương vong của thất hùng, người viết thấy rằng đa phần các số liệu thương vong từ Sử Ký không có trong Chiến Quốc Sách. Như vậy đa phần tư liệu về quân số và thương vong quân sự trong Sử Ký phải tới từ nhiều nguồn khác. Một bộ phận lớn các số liệu này tập trung nhiều nhất trong "Tần bản kỷ", trong khi một vài số liệu khác tới từ phần "Thế gia" của các nước chư hầu và "Lục quốc niên biểu". Theo nhà sử học người Nhật Đằng Điền Thắng Cửu (藤田胜久) trong sách "Sử ký: Chiến quốc sử liệu nghiên cứu" (《史记》战国史料研究), thì Tần bản kỷ chủ yếu dựa vào "Tần ký" (秦記), là một bộ chính sử theo dạng biên niên ký (chronology) của nhà Tần. 

II. Dân số Trung Quốc thời Chiến Quốc đến khi Tần thống nhất

Vì sao phải ước tính dân số thất hùng để xác định quân số? Đó là vì các nước cuối thời Xuân Thu đã bắt đầu xây dựng hệ thống quận (郡) huyện (县) nhằm củng cố quyền lực trung ương của các vương. Huyện vốn dĩ là một đơn vị trưng thu thuế và binh dịch (Dương Khoan, 247-248). Thất hùng do đó thực hiện chính sách tuyển quân toàn dân (conscription). Từ đó có thể thấy, ước tính dân số là bước đầu tiên cần thiết để xác định quân số cho thất hùng.

Đáng tiếc, do các thông tin điều tra dân số của 7 nước không còn nên việc ước tính phụ thuộc vào những nguồn sử liệu không mấy đáng tin cậy và chắc chắn.

Cát Kiếm Hùng dẫn lời của Viên Tổ Lượng 袁祖亮 từ sách Trung Quốc Cổ Đại Nhân Khẩu Quy Mô Phát Triển Biến Hóa Cùng Kỳ Quy Luật (中國古代人口規模發展變化及其規律) xác định từ đời Hạ đến hết thời Xuân Thu nhân khẩu Trung Hoa duy trì ở mức nghìn vạn (chục triệu) và không có thay đổi gì lớn. Ước tính từ 10 triệu đến 13 triệu. Các nhà sử học Trung Quốc không có nhiều nghi vấn về vấn đề này. (Cát Kiếm Hùng, 291). Viên Tổ Lượng miêu tả “trong bốn biển, phân làm vạn nước, thành tuy lớn không quá ba tram trượng, người tuy đông, không quá ba nghìn nhà” (四海之內,分為萬國。城雖大無過三百丈者;人雖眾,無過三千家者) mà nay gom gộp lại chỉ còn thất hùng (今千丈之城,萬家之邑相望也), (Nay thành nghìn trượng, vạn nhà trong ấp thấy nhau ) (Chiến Quốc Sách, Triệu Sách 3). Viên Tổ Lượng chỉ ra dân số ở nông thôn và thành thị có sự tăng trưởng đáng kể từ thời Xuân Thu đến Chiến Quốc, và ông ước tích sự tăng vọt này là từ 13 triệu thành 30 triệu (Cát Kiếm Hùng, 292).

Theo Cát Kiếm Hùng, sau khi phân tích và chắt lọc luận điểm của các nhà sử học Trung Hoa trước đó, dân số Trung Quốc đến hết thời Chiến Quốc, tức vào lúc Tần Thủy Hoàng thống nhất tất cả các nước, là từ 30 triệu đến 45 triệu người. Cơ sở mà các nhà sử học Trung Hoa dựa vào là những miêu tả về binh lực trích từ lời các nhà biện thuyết Tung Hoành còn lưu lại trong Chiến Quốc Sách, như Tô Tần hay Trương Nghi. Một ví dụ về cách tính này là:

Sử liệu Trung Quốc có chứa quân số 7 nước mạnh nhất thời Chiến Quốc tới từ Chiến Quốc Sách, đa phần tới từ lời biện luận của Tô Tần hay Trương Nghi. Sử gia Trung Quốc hiện đại có nhiều ý kiến trái chiều nhau.

Đây là trích dẫn của Triệu Văn Lâm 趙文林và Tạ Thục Quân (謝淑君) trong sách "Trung Quốc Nhân Khẩu Sử" (Cát Kiếm Hùng, 293):

“Cái gọi là "địa phương nghìn lý", "đái giáp (tức đeo giáp" trăm vạn, chẳng qua là lời đầu mối chót lưỡi từ miệng biện sỹ, ý nói rất nhiều mà thôi, những con số ấy không có mấy ý nghĩa... khi xem xét những con số này không thể quá sức tin cậy. Đấy là một khía cạnh. Thêm một khía cạnh nữa, chúng ta lại thấy những thống kê không giống nhau như, đất rộng "nghìn lý", "2 nghìn lý", "năm nghìn lý" và "đái giáp" 20 vạn, "vài mươi vạn", "trăm vạn" phản ảnh một sự cách biệt, cho nên chúng ta cũng không thể áp dụng thái độ của chủ nghĩa hư vô đối với sử liệu như vậy.

Dựa vào đấy, chúng ta dựa trên kinh tế chính trị và cương vực, đem lời biện hư cấu của Tô Trương hai người khấu giảm đi một chút, đem quân sỹ các nước tính toán lại như sau:

Tần 800,000

Sở 800,000

Tề 600,000

Triệu 500,000

Ngụy 400,000

Hàn 300,000

Yên 300,000

Các nước nhỏ như Tống, Lỗ, Trung Sơn, Triệu cả thảy 300,000

----------------------------------------------------

Tổng số: 4 triệu quân

Cần loại đi các hộ có thế lực và các hộ yếu thực tế không có đinh tráng (tức không có con trai), trung bình 3 hộ 2 đinh dành cho binh dịch đã rất ghê ghớm rồi, tức 15 người nhiều nhất chỉ có 2 người. Vậy thì 4 triệu quân có khoảng 30 triệu nhân khẩu, đây đã là con số chỉ có thể giảm xuống, không thể tăng cao.”

Cách tính Triệu Văn Lâm và Tạ Thục Quân thể hiện một thiếu sót. Hai người lại tự ý áp đặt những con số như 800,000 lên cho Tần hay Sở thay vì 1 triệu như trong Chiến Quốc Sách, cơ sở ở đâu mà bớt đi 200,000?

Sự thực là việc tính toán dân số từ tỷ lệ quân đội có những yếu điểm nhất định của nó. Các con số đó có khi không chính xác, có khi hoàn toàn không đi vào chi tiết, đến từ miệng các nhà biện thuyết, vốn phóng đại hay thâu nhỏ để tạo ảnh hưởng lên người nghe. Sử liệu các nhà sử học sử dụng có khi đến từ những miêu tả mang tính văn học, hoặc đến từ ký ức của người đi sau, rốt cục không cách nào có thể phục hồi nguyên vẹn tính chính xác và chắc chắn. (Cát Kiếm Hùng, 297). Nhìn trên quan điểm đó, ta không thể không đặt vấn đề là nếu các ghi chép trong Chiến Quốc Sách hoàn toàn phóng đại thì những cách tính dân số của các nhà sử học sẽ hoàn toàn sụp đổ và không có giá trị chân thực. Đây là chỗ bấp bênh trong việc ước lượng dân số Trung Hoa thời Chiến Quốc.

Cát Kiếm Hùng cho rằng dân số thời Chiến Quốc lúc Tán Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc năm 221TCN là vào khoảng 40 triệu đến 45 triệu người (Cát Kiếm Hùng, 300). Tuy nhiên, ông cũng nói thêm:

我以为,唯一的办法,只有通过此后比较可靠的人口数量进行回溯性的推测。这样做的精确性当然是相当低的,但至少可以确定一个比较合适的上和下限。当然,回溯的时间越长,正确性越低,所以应该特别谨慎,但舍此实在没有其他办法。

Tôi cho rằng, phương pháp duy nhất là thông qua việc so sánh số lượng dân số đáng tin cậy sau này, rồi tiến hành ước tính mang tính truy hồi. Nếu làm như vậy thì tính chính xác rõ ràng đương nhiên tương đối thấp, nhưng chí ít có thể xác định hạn mức cao nhất và thấp nhất khá thích hợp. Đương nhiên, thời gian truy hồi càng dài, tính chính xác càng ngắn, cho nên phải hết sức thận trọng. Nhưng nếu bỏ phương pháo này đi thì thực sự không còn cách làm nào khác. (Cát Kiếm Hùng, 299)

Như vậy, ta phải công nhận phương pháp ước tính dân số để tiến đến xác định quân số gần như là không thể và không chính xác. Ta phải tìm một con đường khác để ước lượng binh lực các nước thời Chiến Quốc.

III. Quân số các nước theo Chiến Quốc Sách

Phần trình bày và dịch này bao gồm sử liệu của Chiến Quốc Sách, vốn là sử liệu quan trọng nhất. Kế tiếp là sử liệu của Sử Ký Tư Mã Thiên.

Chiến Quốc Sách戰國策

1 - Tần 


《秦一》《蘇秦始將連橫》戰車萬乘,奮擊百萬

Tần Sách 1 – Tô Tần Bắt Đầu Tướng Liên Hoành: Chiến Xa vạn chiếc, binh sỹ cầm kích  trăm vạn (1 triệu). (Cách viết số trong sử liệu Trung Hoa có khi bỏ qua số một, như trong 100 vạn, mà chỉ ghi trăm vạn. Cách hiểu thứ hai là lối nói đại khái “vài trăm vạn”, nhưng thường sử liệu khi muốn nói như vậy sẽ thêm chữ số (數)

《韓一》《張儀為秦連橫說韓王》秦帶甲百餘萬,車千乘,騎萬匹,虎摯之士,跿跔科頭,貫頤奮戟者,至不可勝計也。

Hàn Sách 1 – Trương Nghi vì Tần Liên Hoành Thuyết Hàn Vương: Tần có quân đái giáp (đeo giáp) hơm trm vạn (hơn 1 triệu), chiến xa nghìn chiếc, ngựa vạn con, quân sỹ đánh hổ phấn khích nhảy lên không kịp đội mũ chiến mà cầm kích đeo gươm nhiều không thể kể.

《楚一》《張儀為秦破從連橫》「秦地半天下,兵敵四國,被山帶河,四塞以為固。虎賁之士百餘萬,車千乘,騎萬疋,粟如丘山。

Sở Sách 1 – Trương Nghi vì Tần Phá Tung Liên Hoành: “Đất Tần chiếm nửa thiên hạ, binh chống bốn nước, dựa núi che song, bốn bề kiên cố. quân sỹ hổ bôn hơn (một) trăm vạn, chiến xa nghìn chiến, kỵ vạn con, thóc như khấu sơn. 

2 - Ngụy 

《魏一》《張儀為秦連橫說魏王》張儀為秦了橫,說魏王曰:「魏地方不至千里,卒不過三十萬。地四平,諸侯四通,

Ngụy Sách 1 – Trương Nghi vì Tần Liên Hoành Thuyết Ngụy Vương: Trương Nghi vì Tần liên hoành, nói với Ngụy Vương rằng: “Ngụy đất không đến nghìn lý, sĩ tốt không quá 30 vạn (300,000). Đất khấp nơi bằng phẳng, bốn phía thông chư hầu…

《魏一》《蘇子為趙合從說魏王》今竊聞大王之卒,武力二十餘萬,蒼頭二千萬,奮擊二十萬,廝徒十萬,車六百乘,騎五千匹。

Ngụy Sách 1 – Tô tử vì Triệu Hợp Tung Thuyết Ngụy Vương: Nay trộm nghe binh tốt của Đại vương, võ lực hơn 20 vạn (200,000), chít kh ăn xanh hơn 20 vạn (nguyên văn nghi hai nghìn, nghi ctext viết sai, chưa có thời gian tra bản của Trung Hoa Thư Cục), tạp dịch 10 vạn (100,000), chiến xa 600 chiến, ngựa 5000 con.

《魏三》《秦敗魏於華魏王且入朝於秦》『初時惠王伐趙,戰勝輿三梁,十萬之軍拔邯鄲,趙氏不割,而邯鄲復歸。

Ngụy Sách 3 – Tần Bại Ngụy Ở Hoa , Ngụy Vương Nhập Triều ở Tần: Khi trước Huệ Vương phạt Triệu, chiến thắng lấy đất tam Lương, mười vạn quân sỹ đánh hạ Hàm Đan, họ Triệu không cắt, mà Hàm Đan lại về tay họ.

《魏三》《秦敗魏於華走芒卯而圍大梁》「臣聞魏氏悉其百縣勝兵,以止戍大梁,琛以為不下三十萬。以三十萬之眾,守十仞之城,臣以為雖湯、武復生,弗易攻也。夫輕信楚、趙之兵,陵十仞之城,戴三十萬之眾,而志必舉之,臣以為自天下之始分以至於今,未嘗有之也。

Ngụy Sách 3 - Tần Bại Ngụy ở Hoa, Mang Mão bỏ chạy mà vây Đại Lương: “Thần nghe họ Ngụy hết thảy dốc quân tram huyện để phòng thủ Đại Lương, thật không dưới 30 vạn (300,000). Lấy quân 30 vạn, thủ thành mười nhận (1 nhận 8 thước), thần cho rằng tuy Thương Thang (tức Thành Thang), Chu Vũ Vương sống lại, cũng không dễ công hạ được. Nay nhẹ dạ tin quân Sở và Triệu, vượt thành mười nhận, chở 30 vạn (300,000) quân mà quyết chí tất đoạt được, thần cho rằng tự khi thiên hạ bắt đầu phân chia đến này, chưa từng có vậy.

《魏三》《秦將伐魏》趙王許諾,為起兵十萬,車三百乘。

Ngụy Sách 3 -Tần sắp phạt Ngụy: “Triệu Vương ưng cho, khởi binh 10 vạn (100,000), chiến xa ba tram chiếc.”

《魏三》《《秦將伐魏》乃為之起兵八萬,車二百乘,以從田文。

Ngụy Sách 3 -Tần sắp phạt Ngụy: Bèn vì ông khởi binh 8 vạn (80,000), chiến xa hai tram chiếc, để theo Điền Văn.

3 - Triệu 

《趙二》《蘇秦從燕之趙始合從》趙地方二千里,帶甲數十萬,車千乘,即萬匹,

Triệu Sách 2 – Tô Tần theo Yên Triệu bắt đầu hợp tung: Triệu đất rộng 2000 lý, đái giáp vài mươi vạn, chiến xa nghìn chiếc, tức vạn con ngựa.

4 - Hàn 

《韓一》《張儀為秦連橫說韓王》料大王之卒,悉之不過三十萬,而廝徒負養,在其中矣,為除守徼亭障塞,見卒不過二十萬而已矣。

Hàn sách một – Trương Nghi vì Tần liên hoành thuyết Hàn Vương: “Liệu binh tốt đại vương, cả thảy không quá 30 vạn (300,000), mà quân tạp dịch cậy vào nuôi, tính luôn trong đó, phần còn lại thủ Kiêu Đình, thần thấy sỹ tố không quá 20 vạn mà thôi (200,000).”

《韓一》《蘇秦為楚合從說韓王》地方千里,帶甲數十萬。天下之強弓勁弩,皆自韓出。

Hàn sách một –Tô Tần vì Sở hợp tung thuyết Hàn Vương: “địa phương nghìn lý, đái giáp vài chục vạn. Cường cung nỏ cứng, đều từ Hàn mà ra.


5 - Tề 

《齊一》《蘇秦為趙合從說齊宣王》齊地方二千里,帶甲數十萬,粟如丘山。

Tề Sách 1 – Tô Tần vì Triệu hợp tung thuyết Tề Tuyên Vương: “Tề đất rộng 2 nghìn lý, đái giáp vài chục vạn, thóc như khấu sơn.

臨淄之中七萬戶,臣竊度之,下戶三男子,三七二十一萬,不待發於遠縣,而臨淄之卒,固以二十一萬矣。

Trong thành Lâm Tri có 7 vạn hộ, thần trộm tính, hạ hộ có ba người, tổng cộng ba bảy hai mươi mốt vạn (210,000), không dựa vào quân phát từ huyện xa, thì binh tốt Lâm Tri có 210,000 vậy.

6 - Sở 

《楚一》《荊宣王問群臣》地方五千里,帶甲百萬,車千乘,騎萬匹,粟支十年,此霸王之資也。

Sở Sách 1: Đất rộng năm nghìn lý, đái giáp một tram vạn, chiến xa nghìn chiếc, kỵ vạn người, thóc đủ cho 10 năm, đây là nguồn lực của bá vương

《秦三》《蔡澤見逐於趙》楚地持戟百萬,白起率數萬之師,以與楚戰,一戰舉鄢、郢,再戰燒夷陵,南並蜀、漢,又越韓、魏攻強趙,北坑馬服,誅屠四十餘萬之眾,流血成川,沸聲若雷,使秦業帝。自是之後,趙、楚懾服,不敢攻秦者,白起之勢也。身所服者,七十餘城。

Tần Sách 3 – Sái Trạch bị đuổi ở Triệu: Đất Sở người cầm kích trăm vạn, Bạch Khởi soái lĩnh vài vạn quân, để cùng Sở chiến, một lần chiến lấy được Yên, Dĩnh, thêm một lần chiến đốt lăng vua Sở, nam thôn tính Thục, Hán, lại vượt qua Hàn, Ngụy ra sức công Triệu, bắc chôn Mã Phục, đồ sát hơn 40 vạn (400,000) chúng, máu chảy thành sông, tiếng khóc như điện, khiến Tần thành nghiệp đế vương. Từ đó về sau, Triệu, Sở khiếp phục, không dám công Tần. Thế của Bạch Khởi, người hang phục, hơn 70 thành.

7 - Yên 

《燕一》《蘇秦將為從北說燕文侯》地方二千餘里,帶甲數十萬,車七百乘,騎六千匹,粟支十年。

Yên Sách 1– Tổ Tần sắp từ Bắc thuyết Yên Văn Hầu: Địa phương hơn hai nghìn lý, đái giáp vài chục vạn, chiến xa bảy tram chiếc, kỵ sáu nghìn kẻ, thóc đủ dùng 10 năm.

Nhiều sử gia như Dương Khoan vẫn tin vào những con số này. Nhưng các học giả Trung Quốc đã tỏ ra hoài nghi và không tin tưởng chúng. Người viết cũng cho rằng những con số này hoàn toàn bị thổi phồng lên nếu các văn bản này là do người đời sau viết thêm vào và độn chữ nghĩa vào miệng Tô Tần và Trương Nghi. Điển hình cho sự phi lý của các số liệu tới từ Chiến Quốc Sách là ví dụ sau đây:

《燕三》左右皆以為趙可伐,遽起六十萬以攻趙。令栗腹以四十萬攻鄗,使慶秦以二十萬攻代。趙使廉頗以八萬遇栗腹於鄗,使樂乘以五萬遇慶秦於代。燕人大敗。樂間入趙。

Yên Sách 3 - Tả hữu đều cho là có thể phạt Triệu, bèn khởi binh 600,000 để công Triệu, lệnh Lật Phúc lấy 400,000 quân công Hạo, sai Khánh Tần lấy 200,000 quân công Đại. Triệu sai Liêm Pha lấy 80,000 quân đối đầu với Lật Phúc ở Hạo, sai Nhạc Thừa lấy 50,000 quân đối đầu với Khánh Tần ở Đại. Người Yên đại bại, Nhạc Gian vào nước Triệu.

Nước Yên là một nước ở phía Bắc, có dân số nhỏ, làm sao có thể động viên tới 600,000 quân? Mà Sử ký, Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện cũng không chép chi tiết này vào, chứng tỏ đây là một sản phẩm của trí tưởng tượng mà thôi.

IV. Thương vong của quân các nước theo Sử Ký

Chúng ta còn khá nhiều các số liệu lưu giữ trong Sử Ký về thương vong quân số 7 nước. Đa phần các con số này được tìm thấy trong "Tần bản kỷ", nhưng cũng có vài số liệu tới từ phần Thế Gia của 6 nước trừ Tần, và Lục Quốc Niên Biểu trong phần Biểu. Bảng thống kê sau đây dựa vào chú thích số 168 trong sách "War and State Formation in Ancient China and Early Modern Europe" trang 152 của sử gia Victoria Tin-bor hui. Người viết đã bổ sung thêm vài sử liệu tới từ Chiến Quốc Sách và Sử Ký.

Năm (TCN)

Số thương vong

Sử liệu (tiếng Hán)

Sử ký

Chiến quốc sách (tiếng Hán)

Chiến quốc sách

364

60,000 quân tam Tấn

二十一年,與晉戰於石門,斬首六萬,天子賀以黼黻。

Năm thứ hai mươi mốt, cùng Tấn chiến ở Thạch Môn, chém 60,000 thủ cấp. Thiên tử tặng quần áo có hoa văn đẹp.

 

(Tần bản kỷ)

 

 

354

7000 quân Ngụy

與魏戰元里,斬首七千,取少梁。

Đánh nhau với Ngụy ở Nguyên Lý, chém 7000 thủ cấp, lấy Tiểu Lương

 

(Lục quốc niên biể)

 

 

330

45,000 quân Ngụy

五年,秦敗我龍賈軍四萬五千于雕陰,圍我焦、曲沃。

Năm thứ năm, Tần đánh bại quân ta dưới trướng tướng Long Cổ ở Điêu Âm, vây quận Tiêu và Khúc Ốc của ta

 

(Ngụy thế gia)

 

 

332

50,000 quân Tề và Ngụy

 

 

犀首、田盼欲得齊、魏之兵以伐趙,梁君與田侯不欲。犀首曰:「請國出五萬人,不過五月而趙破。」

Tê Đầu, Điền Phán muốn có quân Tề, Ngụy để đánh Triệu, Lương quân (vua Ngụy) và Điền hầu không muốn. Tê Đầu nói: “Xin hãy xuất 50,000 quân trong nước, không quá 5 tháng là Triệu bị phá.”

(Ngụy sách, Ngụy 2, Tê Thủ, Điền Phán muốn có binh Tề, Ngụy để phạt Triệu

317

82,000 quân Hàn, Vệ, Triệu

秦使庶長疾與戰修魚,虜其將申差,敗趙公子渴、韓太子奐,斬首八萬二千。

Tần sứ thứ trưởng Tậy cùng (cùng liên quân) đánh ở Tu Dương, bắt tướng của chúng là Thân Sai, bại Triệu công tử Khát, Hàn thái tử Hoàn, chém 82,000 thủ cấp

 

(Tần bản kỷ)

 

 

314

10,000 quân Hàn

十一年,摢裏疾攻魏焦,降之。敗韓岸門,斬首萬,其將犀首走。

Năm thứ 11, Hồ Lý Tật công quận Tiêu, khiến thành ấy hàng. Bại quân Hàn ở Ngạn Môn, chém 10,000 thủ cấp, tướng chúng là Tê Thủ bỏ chạy.

 

(Tần bản kỷ)

 

 

312

80,000 quân Sở

十三年,庶長章擊楚於丹陽,虜其將屈丐,斬首八萬

 

Năm thứ mười ba, thứ trưởng Chương đánh Sở ở Đan Dương, bắt tướng chúng là Khuất Cái, chém 80,000 thủ cấp

 

 (Tần bản kỷ)

 

 

十七年春,與秦戰丹陽,秦大敗我軍,斬甲士八萬,虜我大將軍屈丐、裨將軍逢侯丑等七十餘人,遂取漢中之郡。。

Mùa xuân năm thứ 17, cùng Tần chiến ở Đan Dương, Tấn đại bại quân ta, chém 80,000 giáp sỹ, bắt đại tướng quân ta là Khuất Cái, tì tướng quân  là bọn Phong Hầu Sửu hơn 70 người, bèn lấy các quận ở Hán trung.

 

 (Sở thế gia)

 

 

307

60,000 quân  Hàn

四年,拔宜陽,斬首六萬。涉河,城武遂。

Năm thứ 4, Hạ thành Tuyên Dương, chém 60,000 thủ cấp, vượt Hoàng Hà, sửa thành Võ Toại.

 

(Tần bản kỷ)

 

 

301

20,000 quân Sở

 

二十八年,秦乃與齊、韓、魏共攻楚,殺楚將唐眛,取我重丘而去。二十九年,秦復攻楚,大破楚,楚軍死者二萬,殺我將軍景缺。

Năm thứ 28 (302), Tần bèn cùng Tề, Hàn, Ngụy cùng công Sở, giết tướng Sở là Đường Muội, lấy Trọng Khâu của ta rồi đi. Năm thứ 29 (301), Tần lại công Sở, quân Sở chết 20,000 người, giết tướng quân ta là Cảnh Khuyết

(Sở thế gia)

 

 

300

30,000 quân Sở

樗里疾卒。擊楚,斬首三萬。魏冉為相。

Sư Lý Tật mất. Đánh Sở, chém 30,000 thủ cấp. Ngụy Tái làm tướng quốc.

 

 

300

20,000 quân Sở

庶長奐伐楚,斬首二萬。

Thứ trưởng Hoán phạt Sở, chém 20,000 thủ cấp

 

(Tần bản kỷ)

 

 

293

240,000 quân Hàn và Ngụy

十四年,左更白起攻韓、魏於伊闕,斬首二十四萬,虜公孫喜,拔五城。

Năm thứ 14, Tả canh Bạch Khởi công Hàn và Ngụy ở Y Khuyết, chém 240,000 thủ cấp, bắt Công Tôn Hỷ, hạ năm thành.

 

(Tần bản kỷ)

 

 

釐王三年,使公孫喜率周、魏攻秦。秦敗我二十四萬,虜喜伊闕。

Li Vương năm thứ ba, sai Công Tôn Hỉ soái lĩnh Chu, Ngụy công Tần. Tần đánh bại quân ta 240,000 người, bắt Hỉ ở Y Khuyết

(Ngụy thế gia)

 

 

279

Vài chục vạn quân và dân Sở

昔白起攻楚百姓隨水流死於城東者,數十萬,城東皆臭,因名其陂為臭池。

Xưa Bạch Khởi công Sở…bách tính theo dòng chảy mà chết ở phía đông thành, vài mươi vạn, phía đông thành bốc mùi hôi thối, nên gọi hồ ấy là “xú trì” (hồ thối)

 

(Thủy  kinh chú, quyển 28)

 

 

274

90,000 thủ cấp và tù binh Triệu

攻趙,取二十餘縣,首虜九萬。

Công Triệu, lấy hơn 20 huyện, thủ cấp và tù binh 90,000

 

(Tần bản kỷ)

 

 

274

40,000 quân Ngụy

秦拔我四城,斬首四萬。

Tần hạ 4 thành của ta, chém 40,000 thủ cấp (Ngụy thế gia)

 

(Lục quốc niên biểu)

 

 

273

130,000-150,000 quân Ngụy, Triệu, Hàn

三十三年,客卿胡(傷)[陽]攻魏卷、蔡陽、長社,取之。擊芒卯華陽,破之,斬首十五萬。

Năm thứ 33, khách khanh Hồ (Thương) [hay Dương] đánh Quyển, Thái Dương, Trường Đỗ, chiếm lấy những nơi này. Đánh Mang Mão ở Hoa Dương, phá chúng, chém 150,000 thủ cấp

 

(Tần bản kỷ)

 

 

昭王三十四年,白起攻魏,拔華陽,走芒卯,而虜三晉將,斬首十三萬。

 

Chiêu Vương năm thứ 34, Bạch Khởi công Ngụy, hạ Hoa Dương, khiến Mang Mảo bỏ chạy, mà bắt được 3 tướng tam Tấn, chém 130,000 thủ cấp

 

(Bạch Khởi, Vương Tiễn truyện)

 

 

 

 

明年,穰侯與白起客卿胡陽復攻趙、韓、魏,破芒卯於華陽下,斬首十萬,取魏之卷、蔡陽、長社,趙氏觀津。

Năm sau, Tư Mã Tương Như cùng Bạch Khởi và khách khanh Hồ Dương lại công Triệu, Hàn, Ngụy, phá Mang Mao ở Hoa Dương, chém 100,000 thủ cấp, lấy Quyển, Thái Dương, Trường Đỗ

272

50,000 quân Hàn

昭王三十四年白起攻韓陘城,拔五城,斬首五萬。

 

(Bạch Khởi, Vương Tiễn truyện)

Chiên Vương năm thứ 34, Bạch Khởi công Hình thành của Hàn, hạ 5 thành, trảm 50,000 thủ cấp

 

 

273

50,000 quân Hàn

四十三年,武安君白起攻韓,拔九城,斬首五萬。

 

(Tần bản kỷ)

Năm thứ 13, Vũ An Quân Bạch Khởi công Hàn, hạ 9 thành, chém 50,000 thủ cấp

 

 

264

400,000 -450,000 quân Triệu

括軍敗,卒四十萬人降武安君。武安君計曰:「前秦已拔上黨,上黨民不樂為秦而歸趙。趙卒反覆。非盡殺之,恐為亂。」乃挾詐而盡阬殺之,遺其小者二百四十人歸趙。

 

(Bạch Khởi, Vương Tiễn truyện)

[Triệu] Quát quân bại, binh sỹ 400,000 người hàng Vũ An Quân. Vũ An Quân tính kế rằng: “Trước Tần hạ Thượng Đảng, dân Thượng Đảng không vui với Tần mà quay về với Triệu. Quân Triệu phản phúc, không giết hết đi, sợ sẽ loạn.” Bèn ngấm ngầm gian trá chôn hết và giết chúng, chỉ để lại 24 người quay về Triệu (Tần bản kỷ)

北坑馬服,誅屠四十餘萬之眾,流血成川,沸聲若雷,使秦業帝。

Bắc chôn Mã Phục, đồ sát hơn 400,000 người, máu chảy thành sông, tiếng khó lớn như sấm, khiến Tần thành nghiệp đế vương.

 

(Tần sách 3, Thái Trạch bị đuổi khỏi Triệu)

白起破趙長平,殺卒四十五萬。

 

(Lục quốc niên biểu)

Bạch Khởi phá Triệu ở Trường Binh, giết 450,000 quân sỹ. (Lục quốc niên biểu)

 

前後斬首虜四十五萬人。趙人大震。

 

(Bạch Khởi, Vương Tiễn truyện)

Trước sau chém đầu 450,000 tù binh, người Triệu hoảng sợ.

 

 

257

26,000 quân Ngụy và Sở

二月餘攻晉軍,斬首六千,晉楚流死河二萬人。

 

(Tần bản kỷ)

Tháng hai tấn công quân Tấn, chém 6000 thủ cấp, Tấn và Sở chết giữa dòng sông 20,000 người

 

 

256

40,000 quân V

五十一年,將軍摎攻韓,取陽城、負黍,斬首四萬。

 

(Tần bản kỷ)

Năm thứ 51 (274), tướng quân Cưu công Hàn lấy thành Dương và Phụ Thử, chém 40,000 thủ cấp

 

 

256

100,000 quân Triệu

十三年,桓齮攻趙平陽,殺趙將扈輒,斬首十萬。

Năm thứ 13, Hoàn Nghĩ tấn công Bình Dương của Triệu, giết tướng Triệu Hỗ Triếp, chém 100,000 thủ cấp

 

(Tần Thủy Hoàng bản kỷ)

 

 

224

 

王翦曰:「大王必不得已用臣,非六十萬人不可。」始皇曰:「為聽將軍計耳。」於是王翦將兵六十萬人,始皇自送至灞上。

Vương Tiễn nói: “Đại vương phải bất đắc dĩ dùng thần, không có 600,000 người thì không được.” Thủy Hoàng nói: “Quả nhân nghe theo kế của tướng quân.” Cho nên Vương Tiễn chỉ huy 600,000 người, Thủy Hoàng tiễn đến Bá Thượng

 

(Tần Thủy Hoàng bản kỷ)

 

 

222

30,000 quân Ngụy

二年,麃公將卒攻卷,斬首三萬。

 

 

Năm thứ hai, Biều công chỉ huy sĩ tốt công Quyển, chém 30,000 thủ cấp

 

(Tần Thủy Hoàng bản kỷ)

 

 

Nhìn vào các con số thống kê sau, ta thấy đa phần các thương vong quân sự ở tầm 80,000 người đổ xuống. Ngoại lệ chỉ gồm có 3 trận đánh nổi tiếng gắn liền với tên tuổi danh tướng Bạch Khởi, kẻ bị cho là đồ sát trên 1 triệu quân của 6 nước chống Tần.

Những con số này bản thân chúng cũng chứa đựng vấn đề. Vì đa phần đến từ "Tần bản kỷ" nên ta có thể giả định rằng chúng đến từ "Tần ký" hay các ghi chép báo cáo của nước Tần. Vì theo "Tần luật", chém đầu càng nhiều thì càng được thưởng hậu, nên động cơ nâng cao thương vong quân số quân địch là rất cao. Binh sỹ có thể chém đầu của dân thường để được thưởng lớn. 

Chúng ta có thể lập một bản tính sau để chứng tỏ những con số thương vong này có vấn đề:

1 - Giả sử dân số thời Chiến Quốc là 45 triệu người

2 - Ta hãy lấy số liệu thương vong tính cho các nước Triệu, Ngụy, Hàn, Tần trong thời kỳ Tần Chiêu Tương Vương (306-251 BC)

A. Ngụy:

Năm 293: Giả 240,000 quân chia đều cho Hàn và Ngụy tại Y Khuyết: 120,000 quân Ngụy

Năm 274: 40,000 quân Ngụy

Năm 273: Giả sử chia 130,000 quân cho ba nước Hàn, Triệu, Ngụy bằng nhau, Ngụy có khoảng 43,333 quân

Năm 257: Chia đều cho Hàn và Ngụy, khoảng 13,000 quân Ngụy

----------------------------------

Tổng cộng: 216,333 quân (chết)

B. Hàn

Năm 307: 60,000 quân Hàn

Năm 293: Giả 240,000 quân chia đều cho Hàn và Ngụy tại Y Khuyết: 120,000 quân Hàn

Năm 273: Giả sử chia 130,000 quân cho ba nước Hàn, Triệu, Ngụy bằng nhau, Hàn có khoảng 43,333 quân

Năm 272: 50,000 quân Hàn

Năm 273: 50,000 quân Hàn

----------------------------------

Tổng cộng: 323,333 quân (chết)

C. Triệu

Năm 274: 90,000 quân Triệu (chết và bị bắt)

Năm 273: Giả sử chia 130,000 quân cho ba nước Hàn, Triệu, Ngụy bằng nhau, Triệu có khoảng 43,333 quân

Năm 264: Trường Bình 400,000-450,000 quân Triệu chết, chọn 400,000 là mốc. Giả sử bác bỏ con số này thì cho Triệu có 300,000 người là tối đa

Năm 256: 100,000 quân Triệu

----------------------------------

Tổng cộng: 533,333-633,333 quân (chết và bị bắt)

D. Tần

Không có dữ liệu, giả sử có 1,000,000 quân như lời Tô Tần nói

Giả sử có 5% dân số được sung vào lính, dựa trên các con số ở trên, tính đại khái dân số 4 nước Tần, Triệu, Ngụy, Hàn:

Tần: 20,000,000 dân

Triệu: 10,666,660 - 12,666,660 dân

Ngụy: 4,326,660 dân

Hàn: 6,466,660 dân

----------------------------------

Tổng cộng: 41,459,980-43,459,980

Như vậy, dân số của 4 nước, chưa tính Sở, Tề và Yên, cũng như các nước nhỏ như Tống, Lỗ, Tây và Đông Chu thì đã gần 43,500,000 người. Nước Sở đất rộng, người đông, há chỉ có 1-2 triệu người? Nước Tề giàu có dân đông, há chỉ có 1-2 triệu người? 

Bảng tính toán sơ bộ trên đánh giá thấp dân số nước Ngụy. Ngụy lớn hơn Hàn nên dân không thể ít hơn Hàn, chẳng qua là do quân số tham chiến ít hơn Hàn nên mới suy ra dân số Ngụy ít hơn. Giả sử Tần chỉ có 600,000 quân ở Trường Bình, thì dân số Tần là 12,000,000 người, kéo tổng số dân thấp xuống còn 33,459,980 người, tức là cách con số 45,000,000 người mà Cát Kiếm Hùng ước tính 11,540,020 người. Như vậy vẫn không hợp lý do dân số Sở và Tề vẫn tương đối thấp, chưa tính Yên, Tống, Lỗ, đông và tây Chu. 

Theo Sử Ký, Tây Chu có 30,000 người (khẩu) sau khi hàng nhà Tần. 尽献其邑三十六,口三万。 (Dâng hết 36 ấp, 30,000 nhân khẩu) (Sử Ký-Chu bản kỷ).

Giáo sư Shao Yun Yang, trong một thư tín trao đổi với người viết cũng cho rằng các con số mà Tư Mã Thiên ghi chép về thương vong quân sự đã bị thổi phòng. Qua đó, ta nên xem các con số thương vong này là tổng số quân 6 nước chống Tần mang theo chứ không phải là số thủ cấp mà quân Tần chém sau trận đánh, vốn ngầm ám chỉ quân số 6 nước trước trận đánh còn lớn hơn số thủ cấp thu được.

Thương vong lớn lao tới 80,000 người là một trường hợp hiếm trong lịch sử chiến tranh cổ đại. Trừ khi đạo quân ấy bị bao vây hoàn toàn, bốn bề thụ địch, thì may ra tổng số quân mới chịu thiệt hại nặng như vậy.

Để có thể làm sáng tỏ luận điểm này, người viết sẽ lấy ví dụ về thương vong trong trận đánh nổi tiếng Cannae giữa Hannibal Barca và quân đội Cộng Hòa La Mã:

Theo Polybius, quân La Mã có 8 legions, mỗi legions có khoảng 5000 legionaries và 300 kỵ binh. Ta nên tính thêm mỗi legions của Rome có một legions tương đương cua đồng minh của Rome, như vậy có cả thảy 16 legions, tức 80,000 bộ binh 4,800 kỵ binh. Polybius viết luôn tổng số quân La Mã trong trận này là 80,000 bộ binh và hơn 6000 kỵ binh. Thương vong trong trận này theo Livy là 45,500-50,000 quân La Mã và 2,700 kỵ binh. Đây là trận đánh mà gần như toàn bộ quân La Mã bị quân Carthage bao vây tứ phía, nên thiệt hại mới nặng như vậy.

Thật khó tưởng tượng nhiều trận đánh thời Chiến Quốc có thể tiệu diệt tới hơn 50,000 tại chỗ. Đây là điều người viết cho là phi lý.

V. Bao gồm hay không bao gồm phu vận lương

Đây là một câu hỏi lớn. Một đôi khi sử liệu phân định rạch ròi các binh chủng của một nước. Như:

今竊聞大王之卒,武士二十萬,蒼頭二十萬,奮擊二十萬,廝徒十萬,車六百乘,騎五千匹。

Nay thần trộm nghe quân đại vương của đại vương có võ sỹ 200,000 người, quân "Thương đầu" (Theo Sử ký Tác ẩn thì "Thương đầu" nghĩa là quân quấn khăn trên đầu, để phân biệt với chúng quân khác) 200,000 người, quân phấn kích 200,000 người, tư đồ 100,000 người, chiến xa 600 chiếc, kỵ 5000 quân.

Đoạn trên Tư Mã Thiên trích từ Chiến Quốc Sách, Ngụy Sách 1.

Tư đồ theo Sử Ký Tác Ẩn và Sử Ký Chính Nghĩa là quân nhân làm tạp vụ, nấu nướng. Nghĩa là sử sách có phân định rõ phu phen và quân chính quy.

Nhưng ở những ghi chép khác, ta không biết được liệu quân ấy có bao gồm phu dịch hay không. Có lẽ đa phần là không. Nhưng thương vong nêu trên có thể bao gồm cả phu dịch hay dân thường lẫn vào trong đó, do áp lực đem thủ cấp về lãnh thưởng.

VI. Trường Bình và 400,000-450,000 người bị chôn sống

Các nhà sử học Trung Quốc cho đến những năm 1990 vẫn cho rằng con số 400,000-450,00 quân Triệu bị Bạch Khởi chôn sống là không hẳn sai sự thật. Nhưng người viết cho rằng con số này hết sức phi lý. Hai nước Tần và Triệu đề binh chống nhau hơn một năm, tổng số quân trước khi bị bắt ắt còn phải lớn hơn 450,000 người, làm sao có thể cung ứng hậu cần cho từng ấy người? Kế nữa, 450,000 người này sau khi bị bắt há có thể nào chịu chết một cách dễ dàng ở cái thời mà vũ khí tiêu diệt hàng loạt như pháo binh còn chưa có? Việc bác bỏ con số lớn lao này dựa trên hai cơ sở:

1. Bảng trên chỉ ra, con số "hơn 400,000" người này có nguồn gốc tới từ Chiến Quốc Sách, Tần Sách 3. Điều đó có nghĩa Tư Mã Thiên có khả năng cao là đã dựa vào ghi chép này hoặc một số ghi chép tương tự để tiếp nhận con số 400,000 người vào bộ Sử Ký.

2. Chu Hy, một nhà triết học thời Nam Tống, cũng đã chỉ ra sự phi lý của con số 400,000-450,000 người này của Tư Mã Thiên:

朱子語類 - 歷代一》長平坑殺四十萬人,史遷言不足信。敗則有之,若謂之盡坑四十萬人,將幾多所在!又趙卒都是百戰之士,豈有四十萬人肯束手受死?決不可信。

(Chu Tử Ngữ Loại - Lịch Đại phần 1): Trường Binh chôn giết 400,000 người, lời của sử gia Thiên không đáng tin. Thua thì có chuyện ấy, nếu nói chôn hết 400,000 người, thì cần biết bao nhiêu chỗ! Lại nói binh tốt nước Triệu đều là quân sỹ trải qua trăm trận, khá có chuyện 400,000 người trói tay chịu chết, quyết không thể tin.

Cho nên trên cơ sở đó, ta có thể bác bỏ con số 400,000-450,000 người của Tư Mã Thiên

VII. Ước tính quân số thời Chiến Quốc

Trong Chiến Quốc Sách còn lưu giữ một đoạn đối thoại hết sức có giá trị, đó là đoạn văn mô tả cuộc trò chuyện giữa Điền Đan và Mã Phục, được tìm thấy trong Triệu Sách 3 - Triệu Huệ Văn Vương năm thứ 30.

Đoạn văn chủ yếu xoay quanh việc Điền Đan không phục Triệu Xa dùng binh quá nhiều, cho rằng bậc đế vương binh không quá 30,000. Mã Phục trách Điền Đan không thức thời, không hiểu việc binh, rằng thành trì thời Chiến Quốc "nghìn trượng", "ấp có vạn nhà nhìn thấy nhau", dẫn giải quân Triệu công nước Trung Sơn phải mất tới 200,000 quân. Nước Tề đánh nước Sở phải dùng tới 200,000 quân mới xong. Điền Đan do vậy tự nhận mình không bằng Mã Phục.

Một đôi khi, Sử Ký có bao gồm số lượng quân binh một cách thực tế hơn, ví dụ quân Triệu dưới sự chỉ huy của Lý Mục chống Hung Nô:

於是乃具選車得千三百乘,選騎得萬三千匹,百金之士五萬人,彀者十萬人,悉勒習戰。

Do vậy bèn tuyển hết chiến xa được 1300 chiếc, tuyển kỵ binh được 13,000, quân sỹ bạch kim (quân tinh nhuệ) 50,000 người, nỏ thủ 100,000 người, đều quen việc chiến đấu. (Tổng cộng 163,000 quân) (Sử ký: Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện) 

Ước tính hợp lý nhất cho quân số tất cả các nước thất hùng là vào khoảng 100,000-300,000 quân, dựa theo sử liệu nêu trên. Số quân này là quân số trên toàn quốc phòng thủ mọi mặt trận. Tần là nước có khả năng động viên quân đội cao nhất, nên quân số có thể rơi vào khoảng 300,000 người. Hàn là nước nhỏ nhất nên quân số có thể vào khoảng 100,000-150,000 người.

Hai trận đánh lớn Y Khuyết và Hoa Dương, một diễn ra năm 293 TCN, một diễn ra năm 273 TCN, cách nhau khoảng 20 năm, vừa đủ cho một thế hệ mới được động viên sung vào quân ngũ, nên theo người viết cho rằng quân số hai bên không có gì đáng nghi ngại. Trận Y Khuyết là nơi 240,000 liên quân Hàn và Ngụy bị Tần đánh bại, giả sử mỗi nước mang quân ngang nhau thì 120,000 quân cho mỗi bên không phải là quá nhiều và nằm trong khoảng ước tính. Trận Hoa Dương là nơi liên minh 3 nước Hàn, Ngụy, Triệu có 130,000-150,000 quân bị quân Tần đánh tan, nên giả sử mỗi nước mang quân ngang nhau thì chi vào khoảng 50,000 quân mỗi nước, cũng không có gì bất hợp lý.

Riêng trận Trường Bình, quân số hai bên cao nhất chỉ khoảng 300,000 quân mỗi bên. Cần lưu ý trận này kéo dài hơn một năm, trên một khoảng diện tích rộng lớn, bao gồm Thượng Đảng của nước Triệu, nên quân số có thể hiệu là đi theo lượt. Tuyệt nhiên không có chuyện 450,000 quân Triệu bị tướng Tần Bạch Khởi chôn sống.

Tư liệu tham khảo:

Nguồn sơ cấp:

Sử Ký Tư Mã Thiên

Chiến Quốc Sách

Chiến Quốc Tung Hoành Gia (Khai quật ở Mã Vương Đôi)

Livy, History of Rome

Polybius, History of Rome

Nguồn thứ cấp

Dương Khoan, Chiến Quốc Sử, Thượng Hải Nhân Dân Xuất Bản Xã

Quách Thục Lâm, Tần Quân Sự Sử, Thiểm Tây Nhân Dân Giáo Dục Xuất Bản Xã

Cát Kiếm Hùng chủ biên, Trung Quốc Nhân Khẩu Sử, quyển 1: Tiên Tần đến Nam Bắc Triều Thời Kỳ

Victoria Tin bor-hui, War and State Formation in Ancient China and Early Modern Europe

Comments

Popular Posts